KHOA HỌC VÂN TAY – NHỮNG ĐIỀU CHÚNG TA CẦN HIỂU

Trong xã hội có rất nhiều quy tắc chung, những cái mà chúng ta luôn chạy theo và nó như trở thành một vòng luẩn quẩn trong cuộc sống của chúng ta. Một thực tế cho thấy, mõi người được sinh ra là một cá thể khác nhau, không cá thể nào giống cá thể nào. Mỗi người khác nhau về hình dạng, tính cách cho đến cách thể hiện tình cảm,… Chính vì vậy con người là một sự bí ẩn của thế giới. Tuy nhiên, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cùng với sự cố gắng trong nghiên cứu, tìm tòi khám phá của các nhà khoa học mà con người đã khám phá được tiềm năng của con người, của bản thân được dễ dàng và có độ chính xác cao hơn bằng nhiều phương pháp khác nhau. Và một trong những phương pháp hiệu quả nhất đó là phương pháp sinh trắc vân tay – một trong những pháp cho độ chính xác cao dựa trên những nghiên cứu, cơ sở khoa học thực tế.

Nghiên Cứu Về Sinh Trắc Vân Tay – Cơ Sở Khoa Học Khoảng đầu thế kỷ 16, các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu về sự hình thành, phát triển của con người qua sinh trắc học dấu vân tay. Có tới hơn 7000 bài báo cáo phân tích dấu vân tay mà các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra từ bắt đầu những năm 1684 cho đến ngày nay. Tuy nhiên ở bài viết sau đây hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về những cột mốc quan trọng của sự ra đời sinh trắc học dấu vân tay. Cơ sở khoa học của sinh trắc học vân tay ứng với từng thời điểm lịch sử.

Cuối thế kỉ 19 năm 1880, Tiến sĩ Henry Faulds đưa ra lý luận số lượng vân tay TRC (Total Ridge Count) có thể dự đoán tương đối chính xác mức độ phụ thuộc của chúng vào gen di truyền của mỗi người. Vì vậy có thể coi TRC là một biểu hiện phụ trợ của hệ thống gen mà con người được thừa kế trong đó có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của mỗi người theo gen di truyền.

Tiến sĩ Henry Faulds

Vào năm 1926, một nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra được lý luận về chỉ số về cường độ vân tay PI có tên là Harold Cummins. Một là một tiến sĩ nổi tiếng và ông được xem là cha đẻ của lý luận này. Kết quả lý luận mà ông đã đưa ra nói rằng dấu vân tay của con người được hình thành song song với sự hình thành cấu trúc của bộ não con người. Đồng thời ông cũng cũng chỉ ra được rằng: giữa tiềm năng và trí tuệ của con người có liên quan đến hình dạng vân tay, vị trí hình dạng vân tay, giá trị RC cho đến số lượng các tam giác điểm được xác định bởi dấu vân tay. Kết quả của quá trình nghiên cứu, ông đã chứng minh được rằng: Bộ não của con người bắt đầu phát triển đồng thời cũng với sự hình thành của dấu vân tay của thai nhi trong khoảng thời gian từ 13 tuần tuổi cho đến 19 tuần tuổi. Nếu chưa có sự xuất hiện các dâu vân tay, thì bộ não mới chỉ ở giai đoạn bắt đầu hình thành. Ở tuần thai nhi thứ 19 bắt đầu hình thành các cơ quan chính của não bộ, trong đó có vỏ của bộ phận đại não.

Tiến sĩ Harold Cummins

Vào năm 1944, Sự phát hiện ra các đặc điểm trong tâm sinh lý của con người đã đánh dấu cột mốc về lịch sử hình thành và phát triển trong lĩnh vực tâm sinh lý của con người, Người phát hiện ra những đặc điểm quan trọng này chính là tiến sĩ tâm lý Julius Spier Chirologist, và cũng chính ông là người đã xuất bản ra cuốn sách “Bàn tay của trẻ em”. Sự phát hiện đó của ông đều thông qua mô hình bàn tay của con người. Vào năm 1957, Để chẩn đoán về hội chứng Down thì tiến sĩ walker đã sử dụng công nghệ sinh trắc học dấu vân tay. Bằng công nghệ này những chẩn đoán về hội chứng down đã cho kết quả gần như là tuyệt đối. Vào năm 1968, Sarah holt bắt đầu tiến hành nghiên cứu về các đặc điểm dấu vân tay của con người trên các quốc gia khác nhau thông qua việc di truyền cũng như đặc điểm về môi trường sống của con người, của từng vùng miền. Kết quả là ông đã tìm ra được những chủng vân tay cơ bản mà con người có.

Năm 1981, giáo sư Roger W.Sperry và dồng sự được vinh danh ở giải Nobel trong ngành Y học vì đã có những nghiên cứu về chức năng của hai bán cầu não trái, não phải và lý thuyết toàn não. Nội dung nghiên cứu đã chứng minh rằng mỗi bán cầu trong não bộ được phân bố và giữ những nhiệm vụ khác nhau.

Vào năm 1985, Ông Chen Yi Mou – một tiến sĩ nổi tiếng của trường đại học Harvard ở mỹ, đã dựa vào thuyết thông minh của Tiến sĩ Howard Gardner để nghiên cứu sinh trắc học dấu vân tay. Đây là lần đầu tiên trong lĩnh vực giáo dục đã sinh trắc học dấu vân tay vào như một môn học. Hiện nay, Việc nghiên cứu về công nghệ sinh trắc học chưa dừng lại mà nó còn được phát triển lên một mức cao hơn trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế, thể dục thể thao, quản lý, … Đặc biệt ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Singapore,…áp dụng công nghệ sinh trắc học dấu vân tay trong lĩnh vực giáo dục nhằm tìm ra các phương pháp dạy phù hợp với tâm lý, khả năng,…từng đối tượng học sinh, sinh viên để từ đó chất lượng ngành giáo dục được nâng cao hơn.

Sinh trắc học dấu vân tay là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu sâu về các đặc điểm của dấu vân tay có liên quan như thế nào đến bộ phận não bộ con người để áp dụng những đặc điểm đó vào thực tiễn cuộc sống cũng như sự hình thành và phát triển của con người. Dựa vào bảng báo cáo sinh trắc học dấu vân tay cho bạn biết được những thông tin gì. Nhờ vào bản báo cáo sinh trắc học, cho chúng ta biết được những thông số của bộ phận não bộ. Những thông số này là dấu hiệu đặc biệt cho chúng ta xác định hay điều chỉnh con đường của mình cho phù hợp với những tiềm năng vốn có của bản thân. Công nghệ sinh trắc học sẽ cho chúng ta biết về: Tính cách và các hành vi (lời nói, của chỉ, hành động,…) của bản thân. Mỗi người sinh ra đều có 2 bán cầu não đó là bán cầu não trái và bán cầu não phải và dựa vào sinh trắc học dấu vân tay để biết được hai bán cầu não, năm thùy não này hoạt động như thế nào. Từ đó xác định điểm mạnh điểm yếu, năng khiếu, tiềm năng của mỗi cá nhân.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *